Sạt lở nghiêm trọng chia cắt tuyến đường huyết mạch ở An Giang: Chuyên gia chỉ rõ nguyên nhân

Mặt đường QL91 sạt lở xuống sông Hậu, chuyên gia chỉ rõ khai thác cát và thủy điện trên sông Mekong.

Rạng sáng ngày 1/8, một nửa mặt đường Quốc lộ 91 (đoạn thuộc ấp Bình Tân, xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú, An Giang) đã bị sạt hoàn toàn xuống sông Hậu.

Mặt đường Quốc lộ 91 bị sạt lở xuống sông Hậu. Ảnh: Báo Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh 

Đoạn đường này đã có nhiều vết nứt từ ngày 27/7, ăn sâu khoảng 1/3 mặt đường nhựa của QL91 chiều dài khoảng 30 m, chiều rộng vết nứt khoảng 0,01 m, có dấu hiệu lan rộng và có nguy cơ sạt lở xuống sông Hậu.

Đến 5 giờ 30 ngày 1/8, mặt nhựa đã bị sạt 1/2 đường với chiều rộng 27m, dài 85m, tăng về phía hạ du.

Chiều 1/8, Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Nhật cùng đoàn công tác đã trực tiếp đến khảo sát tình trạng quốc lộ (QL) 91 bị sạt lở nghiêm trọng.

Ông Trần Anh Thư, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, cho biết tại vị trí sạt lở cách bờ 70 m có hố xoáy -25 m, có hiện tượng dốc đứng.

Giải pháp hiện thời là ổn định mái dốc, cao trình, sử dụng bao tải cát với định mức 23 bao/m2. Tổng lượng cát để xử lý tại vị trí sạt lở là 34.000 khối cát. Tổng chi phí xử lý sự cố sạt lở là 25 tỉ đồng, ứng ngân sách dự phòng 15 tỉ đồng.

“Nếu muốn xử lý căn cơ cần phải khảo sát đoạn sông khoảng 2.000 m, nạo vét bãi bồi, chỉnh trị dòng chảy của sông Hậu bằng ngân sách xã hội hóa” – ông Thư nói.

Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Nhật chỉ đạo sớm hoàn thành tuyến tránh nhanh nhất, đồng thời khắc phục, hạn chế tình trạng sạt lở trước mùa mưa, lũ.

Sông Hậu đã ăn đứt một đoạn quốc lộ 91 tại huyện Châu Phú (An Giang). Ảnh: Tuổi trẻ 

Giới chuyên môn nhận định, nguyên nhân ban đầu được xác định là do địa hình đáy sông Hậu có lạch sâu áp sát bờ, tác động dòng chảy đạp vào tạo hàm ếch và tác động của tải trọng phương tiện giao thông trên QL91 lớn nên gây sạt lở.

Trả lời báo Đất Việt, ThS. Nguyễn Hữu Thiện – chuyên gia nghiên cứu độc lập về sinh thái ĐBSCL nhận xét, mọi nguyên do được cho là “thay đổi dòng chảy” gì đó đều là do thiếu phù sa và cát. Đứng sau tình trạng này là hoạt động khai thác cát bừa bãi và các đập thủy điện trên dòng sông Mekong ngăn phù sa đổ về hạ du. Chính sự thiếu phù sa đã tạo ra sự bất ổn định của dòng chảy.

Theo ThS. Nguyễn Hữu Thiện, kịch bản sạt lở tại ĐBSCL đã được các nhà khoa học cảnh báo từ 10 năm trước nhưng… không ai tin.

“Chúng tôi đã đề cập đến câu chuyện này từ năm 2009, trong báo cáo đánh giá môi trường chiến lược về 11 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong. Trong đó đã cảnh báo về sự bất ổn định dòng chảy do tình trạng khai thác cát và các đập thủy điện ngăn chặn phù sa đổ về sông Tiền và sông Hậu ở Việt Nam.

Tuy nhiên, khi đó, các báo cáo khoa học chưa thực sự được các cơ quan chức năng chú ý và không tin tưởng. Tới nay, nhiều cơ quan vẫn ‘vin’ vào các lý do như thay đổi dòng chảy… để lập luận cho việc sạt lở ở ĐBSCL. Thực tế, sự thay đổi dòng chảy bắt nguồn từ khai thác cát và thiếu phù sa từ sông Mekong chứ dòng chảy tự nó không thể độc lập được” – vị chuyên gia cho biết.

Theo giải thích của ThS. Nguyễn Hữu Thiện với báo chí trước đây, từ hàng ngàn năm trước, dòng nước Mekong như một băng chuyền mang phù sa về kiến tạo nên ĐBSCL. Phù sa sông Cửu Long còn tràn ra biển, tạo thành một vùng nước đục khoảng 20 – 30 km tính từ bờ ra. Nó chính là chiếc áo giáp của đồng bằng. Vì nước đục nặng hơn nên sóng biển gặp lớp phù sa sẽ giảm bớt sức mạnh đánh vào bờ. Nhưng, khi thủy điện chặn mất phù sa, nước và phù sa đổ ra biển giảm đi, chiếc áo giáp bị mỏng lại và một quá trình ngược kiến tạo bắt đầu.

Điều này cũng đã được chứng minh bởi số liệu của Ủy hội Sông Mekong. Theo đó, năm 1992 lượng phù sa lơ lửng trên sông là 160 triệu tấn/năm. Nhưng đến năm 2014, sau khi hàng loạt dự án thủy điện được xây ở thượng nguồn con sông, lượng phù sa chỉ còn 85 triệu tấn/năm, giảm gần một nửa. Riêng cát sỏi chìm dưới đáy sông gần như không còn về hạ nguồn.
 
Rất nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học quốc tế và đặc biệt là công trình nghiên cứu đánh giá môi trường chiến lược trong 16 tháng của một nhóm chuyên gia hùng hậu 25 người thực hiện từ 2009-2010 do Ủy hội sông Mekong (MRC) ủy thác mà ThS. Nguyễn Hữu Thiện là một thành viên, đã chỉ rõ, tác động của thủy điện rất đa dạng và sẽ bộc lộ dần dần qua thời gian sau khi xây đập.

Có những tác động sẽ thấy sớm và những tác động sẽ diễn ra dần dần. Ví dụ, tác động về mất phù sa thì khoảng 10-15 năm sau mới thấy được tác động rõ ràng trên năng suất lúa. Tác động làm giảm nguồn cát, sỏi ở đáy sông cũng phải cần 10 năm sau mới nhận biết vì thời gian cát sỏi di chuyển dọc đáy sông xuống đến ĐBSCL cũng mất nhiều năm.

Ông Thiện chỉ rõ: Cát di chuyển từ thượng nguồn về đến ĐBSCL phải mất vài chục năm, vì cát nặng di chuyển ở đáy sông nên mỗi năm chỉ đi được một đoạn trong mùa lũ. Toàn bộ lượng cát từ phía thượng nguồn hiện nay đã không đi xuống được vì 7 đập ở Trung Quốc chặn, nhưng hiện nay cát vẫn còn về là từ số cát của những năm trước ở đoạn trung lưu di chuyển xuống. Trong tương lai, khi có 11 đập ở hạ du, lượng cát này cũng sẽ kẹt lại. Nghĩa là, trong tương lai sẽ không còn một hạt cát, viên sỏi nào tiếp tục về ĐBSCL.

Ông Thiện cho rằng, thiếu giảm phù sa sẽ tác động lên ĐBSCL mà không thể ước lượng được bằng số liệu.

Cùng với thiếu phù sa, sụt lún và sạt lở ở ĐBSCL trầm trọng như hiện nay là do sử dụng nước ngầm quá mức và tình trạng khai thác cát. Tốc độ sụt lún trung bình 18cm trên toàn đồng bằng trong 25 năm (1991-2016); hơn một nửa chiều dài bờ biển ĐBSCL đang bị sạt lở. Tổng sạt lở bờ sông, bờ biển lên đến 891km.

Ông Thiện nhận định, tình trạng khai thác cát tràn lan ở ĐBSCL đã làm mất đi khoảng 200 triệu tấn cát ở sông Tiền, sông Hậu, đồng thời hạ thấp 2 lòng sông này xuống khoảng 1,3m. Khai thác cát tạo thành những hố sâu, cát thô và cát trung bình về sẽ bị kẹt lại, không ra được cửa sông, cửa biển như quy luật thông thường của tự nhiên.

Dòng chảy “đói” cát làm cho xói lở bờ sông, sạt lở bờ biển sẽ càng dữ dội. Đặc biệt, khai thác cát có tác động rất xa, có thể đến hàng trăm km vì khai thác cát tạo ra những hố sâu nhân tạo mà cát năm sau không thể vượt qua đi tiếp xuống bên dưới. Khác với những hố sâu tự nhiên, nơi có động lực nước để nạo vét cát và chuyển đi tiếp thì các hố sâu nhân tạo này sẽ “bắt giữ” cát năm sau đi ngang.

Việc khai thác cát ở một nơi có thể gây sạt lở cho các tỉnh bên dưới và sạt lở bờ biển vì cát không ra được bờ biển. Vậy không thể nói là nơi nào không có khai thác cát thì sạt lở và sạt lở không phải do khai thác cát gây ra.

“Nếu chỉ loay hoay tìm nguyên nhân tại chỗ thì sẽ không thấy được bức tranh lớn và nguyên nhân gốc rễ của vấn đề. Nếu những hố sâu dưới lòng sông do khai thác cát cứ hình thành, lòng sông mỗi ngày sâu hơn thì sạt lở sẽ càng hung hăng hơn” – ThS. Nguyễn Hữu Thiện phân tích.

Ông Thiện cho rằng, hiện nay, nhiều cơ quan mang lý do thay đổi dòng chảy để biện hộ, “bẻ lái” cho tác động của khai thác cát bởi “họ có quyền lợi từ việc đó”.

Vụ sạt lở đường Quốc lộ 91 chỉ là một ví dụ của tình trạng sạt lở đồng bằng. 
Trong khoảng 5- 10 năm tới, tình trạng sạt lở ở ĐBSCL sẽ còn nghiêm trọng hơn.

Làm gì để ngăn sạt lở nghiêm trọng hơn?

Theo vị chuyên gia, Việt Nam đã từng ở một trong những nơi có lượng nước dồi dào nhất thế giới nhưng lại không sử dụng được nước sông ngòi mà phụ thuộc vào nước ngầm. Nguyên do bởi sông ngòi quá ô nhiễm từ nhiều nguồn, trong đó có phần lớn từ nguồn công nghiệp và phân bón, nông dược từ nông nghiệp thâm canh.

Phù sa bồi đắp cho ĐBSCL bị giảm, cùng với khai thác cát bừa bãi khiến quy trình kiến tạo bị đảo ngược. 

Muốn giảm sử dụng nước ngầm thì lời giải lại nằm ở nước mặt, tức là phải giảm ô nhiễm, phục hồi sông rạch lại, không để sông rạch tiếp tục gánh quá nhiều ô nhiễm như hiện nay. Muốn phục hồi sông rạch thì cần xử lý ô nhiễm trước khi thải ra sông.

Về công nghiệp ở ĐBSCL cần phải tránh những ngành công nghiệp gây ô nhiễm và những công nghệ lạc hậu. Công nghiệp ở ĐBSCL chỉ nên là những công nghiệp ứng dụng công nghệ sạch, công nghệ chế biến hỗ trợ cho nông nghiệp.

Bên cạnh đó, cần hạn chế tối đa việc khai thác nước ngầm, quản lý lại việc  khai thác cát, tránh khai thác tràn lan, quá mức. Lập bản đồ rủi ro sạt lở bờ sông để chủ động di dời người dân, tránh thiệt hại. Tránh những công trình lớn, can thiệp sai quy luật, đắt đỏ và kém hiệu quả.

“Cần chấm dứt tình trạng mỗi tỉnh đều cấp phép khai thác cát ở đoạn sông chảy qua tỉnh mình mà không biết đến tác động đến tỉnh khác và bờ biển. Các công trình lớn như các cầu Cần Thơ, Vàm Cống, Mỹ Thuận, Cao Lãnh rất có thể bị đe dọa dù các điểm khai thác cát ở rất xa” – ông Thiện nhận định.create

Cúc Phương / baodatviet.vn